A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM - CÔ MAI 4C

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM - CÔ MAI 4C

                       

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

KÍ HIỆU VIẾT TẮT

 

 

1. BTNB: Bàn tau nặn bột

2. HS: Học sinh

3. GV: Giáo viên

4. SKKN: Sáng kiến kinh nghiệm

5. KT: Kiểm tra

6. TBDH: Thiết bị dạy học

 

 

A. ĐẶT VẤN ĐỀ

 

I/ Mục đích của SKKN

          Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về "Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế", Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai đổi mới chương trình giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực; phát triển năng lực và phẩm chất người học; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; phát triển khả năng sáng tạo và ý thức tự học của học sinh. Để thực hiện được mục tiêu đó, bên cạnh việc đổi mới nội dung chương trình giáo dục phổ thông, việc đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề đang được quan tâm đặc biệt.

          Việc tìm kiếm và vận dụng các phương pháp tiên tiến vào quá trình dạy học các môn học ở Tiểu học nói chung và môn Khoa học nói riêng là vấn đề quan trọng nhằm hình thành cho học sinh phương pháp học tập độc lập, sáng tạo, qua đó nâng cao chất lượng dạy học. Một trong những phương pháp có nhiều ưu điểm, đáp ứng được mục tiêu yêu cầu đổi mới và vận dụng tốt vào quá trình dạy học môn Khoa học ở Tiểu học hiện nay đó là phương pháp “Bàn tay nặn bột”. Việc hình thành cho học sinh một thế giới quan khoa học và niềm say mê khoa học, sáng tạo là một mục tiêu quan trọng của giáo dục hiện đại khi mà nền kinh tế tri thức đang dần dần chiếm ưu thế tại các quốc gia trên thế giới. "Bàn tay nặn bột'' là một phương pháp dạy học tích cực, thích hợp cho việc giảng dạy các kiến thức khoa học tự nhiên, đặc biệt là đối với bậc Tiểu học, khi học sinh đang ở giai đoạn bắt đầu tìm hiểu các kiến thức khoa học, hình thành các khái niệm cơ bản về khoa học. Đó là phương pháp dạy học tích cực do Giáo sư Georger Charpak (người Pháp) sáng tạo và phát triển từ năm 1995 dựa trên cơ sở khoa học của sự tìm tòi – nghiên cứu. Với phương pháp này, học sinh tự lĩnh hội kiến thức mới xuất phát từ một sự vật, hiện tượng thực tế gần gũi với các em.

          Nhận thức được tầm quan trọng của phương pháp BTNB, từ năm 2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng và thực hiện đề án "Triển khai phương pháp BTNB ở trường phổ thông giai đoạn 2011-2015". Trong đó bậc Tiểu học áp dụng phương pháp này với môn Khoa học lớp 4,5, Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3. Năm học 2015- 2016 tiếp tục vận dụng thực hiện.

           Môn Khoa học ở lớp 4 được xây dựng trên cơ sở nối tiếp những kiến thức về tự nhiên của môn Tự nhiên và Xã hội các lớp 1,2,3. Nội dung chương trình được cấu trúc đồng tâm mở rộng và nâng cao theo các chủ đề. Chương trình cũng đã chú trọng tới hình thành và phát triển các kỹ năng trong học tập cho HS như: Quan sát, thí nghiệm, phán đoán, giải thích các sự vật hiện tượng trong tự nhiên và kỹ năng vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống. Tăng cường tổ chức các hoạt động học tập nhằm tạo điều kiện cho học sinh phát huy tính tích cực, tự lực, tìm tòi phát hiện ra kiến thức.

Tên các bài học trong sách giáo khoa thường được trình bày dưới dạng một câu hỏi, lúc hoàn thành bài học cũng là lúc học sinh tìm được câu trả lời cho câu hỏi. Điều này rất phù hợp với phương pháp “Bàn tay nặn bột”. Hơn thế nữa, ở lứa tuổi học sinh Tiểu học, thế giới tự nhiên đối với các em chứa đựng bao điều bí ẩn. Sự tác động của nó hàng ngày qua mắt các em làm cho các em lạ lẫm, khiến các em tò mò, muốn khám phá để hiểu biết về chúng. Chính trí tò mò, ham hiểu biết khoa học là động cơ thúc đẩy các em học tập một cách tích cực. Sự hứng thú sẽ làm nảy sinh khát vọng, lòng ham mê hoạt động và hoạt động sáng tạo. Điều này sẽ hình thành động cơ học tập (động cơ bên trong) cho HS.

Từ những phân tích trên, tôi nhận thức sâu sắc rằng việc đưa phương pháp BTNB vào dạy môn khoa học ở nhà trường Tiểu học là hoàn toàn hợp lý.  Với người giáo viên trực tiếp giảng dạy, làm thế nào để vận dụng tốt phương pháp dạy học,  đạt hiệu quả cao trong giảng dạy là vấn đề ai cũng quan tâm. Đó là mục đích tôi tìm hiểu cách vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” để giảng dạy môn khoa học sao cho đạt hiệu quả.

II/ Lí do đề xuất SKKN

Qua dự giờ và trao đổi với đồng nghiệp, tôi nhận thấy việc áp dụng phương pháp BTNB trong môn Khoa học lớp 4 nói riêng và môn Khoa học (Tự nhiên và Xã hội) nói chung ở các  trường Tiểu học còn có những hạn chế  nhất định. Một số HS chưa thực sự hào hứng với môn học. Kết quả học tập chưa cao. Vậy thực trạng việc dạy học môn Khoa học như thế nào? Việc áp dụng phương pháp dạy học mới khó khăn ra sao? Do đâu mà giáo viên còn lúng túng khi vận dụng phương pháp BTNB trong việc thực hiện dạy học môn Khoa học? Tại sao học sinh chưa thực sự húng thú với môn học?… Để trả lời cho các câu hỏi đó, tôi đã tìm hiểu thực trạng việc dạy học môn Khoa học ở lớp 4, trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ.

Môn Khoa học được đưa vào giảng dạy ở  lớp 4 với một dung lượng kiến thức lớn. Khó khăn lớn nhất của GV trong dạy học môn Khoa học đó là việc vận dụng phương pháp BTNB. Một số giáo viên còn lúng túng, chưa hiểu đúng, hiểu sâu mục tiêu của phương pháp này nên vận dụng một cách hình thức, hời hợt. Trong khi cần chú trọng việc hình thành cho HS phương pháp học tập, rèn kỹ năng và thói quen tự tìm tòi nghiên cứu trước các sự vật, hiện tượng tự nhiên thì không ít giáo viên lại yêu cầu học sinh đọc thuộc lòng, áp đặt kiến thức, bắt học sinh phải công nhận kiến thức khoa học một cách miễn cưỡng. Vì vậy, GV đã vô tình làm mất đi khả năng sáng tạo của HS, không phát huy được tính tò mò ham hiểu biết của các em. Chính vì vậy mà hiệu quả giờ học chưa cao. Mặc dù các em đã biết làm việc tập thể, biết trao đổi, trình bày ý kiến cá nhân, biết làm một số thí nghiệm thực hành đơn giản nhưng giờ học thiếu sinh động, không khí học tập còn nặng nề. Các em ít tò mò, ít đặt ra những câu hỏi thắc mắc và hầu như mơ hồ về biểu tượng của những sự vật hiện tượng mà các em được tìm hiểu, sự lập luận còn kém, các kỹ năng thực hành còn vụng về, lúng túng. Việc vận dụng những kiến thức mà các em thu thập được vào thực tiễn còn hạn chế bởi các em thiếu  kỹ năng thực hành. Các em chưa có thói quen ghi lại những gì mà các em quan sát được, chưa chủ động trong việc xác định mục đích quan sát và thí nghiệm, chưa nắm vững và nhớ lâu kiến thức về khoa học.

Qua tìm hiểu thực tế, dự giờ, trao đổi cùng đồng nghiệp, tôi nhận thấy thực trạng của việc áp dụng phương pháp BTNB trong môn Khoa học của  GV còn có nhiều hạn chế. Vậy nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng đó? Bản thân tôi đã tìm hiểu và thấy được nguyên nhân chủ yếu của tình trạng đó là do GV chưa sử dụng tốt phương pháp BTNB trong dạy học môn Khoa học. Cụ thể như sau:

- Do chưa hiểu đúng, hiểu sâu bản chất của phương pháp BTNB dẫn đến tình trạng áp dụng phương pháp BTNB máy móc, kém hiệu quả.

- Một số GV còn lúng túng trong việc thiết kế và thực hiện tiến trình tiết dạy môn Khoa học có áp dụng phương pháp BTNB.

- Việc lựa chọn và sử dụng thiết bị dạy học trong phương pháp BTNB chưa phù hợp, dẫn đến hiệu quả giờ dạy chưa cao.

- Kỹ thuật dạy học và rèn kỹ năng cho HS trong phương pháp BTNB còn hạn chế.

   Từ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn nêu trên, để áp dụng phương pháp BTNB trong môn Khoa học lớp 4 hiệu quả, tôi mạnh dạn lựa chọn SKKN có tên gọi: "Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học môn Khoa học lớp 4" để nghiên cứu và đã áp dụng thành công trong năm học 2014-2015, tiếp tục vận dụng trong năm học 2015 -2016.

 

                   B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

 

1/  Cơ sở lí luận của vấn đề

Phương pháp dạy học "Bàn tay nặn bột" (tiếng Pháp là La main à la pâte - viết tắt là LAMAP; tiếng Anh là Hands-on, là phương pháp dạy học khoa học dựa trên cơ sở của sự tìm tòi - nghiên cứu, áp dụng cho việc dạy học các môn khoa học tự nhiên. Phương pháp này được khởi xướng bởi Giáo sư Georges

Charpak (Giải Nobel Vật lý năm 1992). Theo phương pháp BTNB, dưới sự giúp đỡ của GV, chính HS tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra để từ đó hình thành kiến thức cho mình. Đứng trước một sự vật hiện tượng, học sinh có thể đặt ra các câu hỏi, các giả thuyết từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành thực nghiệm nghiên cứu để kiểm chứng và đưa ra những kết luận phù hợp thông qua thảo luận, so sánh, phân tích, tổng hợp kiến thức.
          Mục tiêu của phương pháp BTNB là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá và say mê khoa học của HS. Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, phương pháp BTNB còn chú ý nhiều đến việc rèn  luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho HS.

          Dạy học khoa học dựa trên tìm tòi nghiên cứu là một phương pháp dạy và học khoa học xuất phát từ sự hiểu biết về cách thức học tập của học sinh, bản chất của nghiên cứu khoa học và sự xác định các kiến thức khoa học cũng như kĩ năng mà học sinh cần nắm vững. Phương pháp dạy học này cũng dựa trên sự tin tưởng rằng điều quan trọng là phải đảm bảo rằng học sinh thực sự hiểu những gì được học mà không phải đơn giản chỉ là học để nhắc lại nội dung kiến thức và thông tin thu được. Không phải là một quá trình học tập hời hợt với động cơ học tập dựa trên sự hài lòng từ việc khen thưởng, dạy học khoa học dựa trên tìm tòi nghiên cứu đi sâu với động cơ học tập được xuất phát từ sự hài lòng của HS khi đã học và hiểu được một điều gì đó. Dạy học khoa học dựa trên tìm tòi nghiên cứu không quan tâm đến lượng thông tin được ghi nhớ trong một thời gian ngắn mà ngược lại là những ý tưởng hay khái niệm dẫn đến sự hiểu biết ngày càng sâu hơn cùng với sự lớn lên của HS.

Tiến trình tìm tòi nghiên cứu khoa học trong phương pháp BTNB là một vấn đề cốt lõi, quan trọng. Tiến trình tìm tòi nghiên cứu của HS không phải là một đường thẳng đơn giản mà là một quá trình phức tạp. Học sinh tiếp cận vấn đề đặt ra qua tình huống (câu hỏi lớn của bài học); nêu các giả thuyết, các nhận định ban đầu của mình, đề xuất và tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu; đối chiếu các nhận định (giả thuyết đặt ra ban đầu); đối chiếu cách làm thí nghiệm và kết quả với các nhóm khác; nếu không phù hợp HS phải quay lại điểm xuất phát, tiến hành lại các thí nghiệm hoặc thử làm lại các thí nghiệm như đề xuất của các nhóm khác để kiểm chứng; rút ra kết luận và giải thích cho vấn đề đặt ra ban đầu. Trong quá trình này, HS luôn luôn phải động não, trao đổi với các HS khác trong nhóm, trong lớp, hoạt động tích cực để tìm ra kiến thức. Con đường tìm ra kiến thức của HS cũng đi lại gần giống với quá trình tìm ra kiến thức mới của các nhà khoa học.

          Việc xác định kiến thức khoa học phù hợp với học sinh theo độ tuổi là một vấn đề quan trọng đối với GV . GV phải tự đặt ra các câu hỏi như: Có cần thiết giới thiệu kiến thức này không? Cần thiết giới thiệu kiến thức này vào thời điểm nào? Cần yêu cầu HS hiểu kiến thức này ở mức độ nào? GV có thể tìm câu hỏi này thông qua việc nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa và tài liệu hỗ trợ GV (sách giáo viên, sách tham khảo, hướng dẫn thực hiện chương trình) để xác định rõ hàm lượng kiến thức tương đối với trình độ cũng như độ tuổi của HS và điều kiện địa phương.

Phương pháp BTNB dựa trên thực nghiệm và nghiên cứu cho phép GV   hiểu rõ hơn cách thức mà học sinh tiếp thu các kiến thức khoa học. Phương pháp BTNB cho thấy cách thức học tập của HS là tò mò tự nhiên, giúp các em có thể tiếp cận thế giới xung quanh mình qua việc tham gia các hoạt động nghiên cứu. Các hoạt động nghiên cứu cũng gợi ý cho HS tìm kiếm để rút ra các kiến thức cho riêng mình, qua sự tương tác với các HS khác cùng lớp để tìm phương án giải thích các hiện tượng. Các suy nghĩ ban đầu của HS rất nhạy cảm ngây thơ, có tính logic theo cách suy nghĩ của HS , tuy nhiên thường là sai về mặt khoa học.

2. Thực trạng của vấn đề

Từ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn nêu trên, để áp dụng phương pháp BTNB trong môn Khoa học lớp 4 hiệu quả, tôi tìm hiểu và nhận thấy thực trạng như sau:

a/ Thuận lợi:

 Hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đang thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục, trong đó đổi mới phương pháp dạy học là một trong các nhiệm vụ cấp bách. Cùng với các phương pháp dạy học tích cực khác đang được triển khai, phương pháp BTNB đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định đầu tư nghiên cứu, biên soạn tài liệu, tổ chức tập huấn, triển khai áp dụng trong các trường Tiểu học.

 Phương pháp BTNB là một phương pháp có tiến trình dạy rõ ràng, dễ hiểu, có thể áp dụng được ở điều kiện của Việt Nam. Qua quá trình thử nghiệm, áp dụng phương pháp BTNB vào trong các lớp học, có thể nhận thấy sự ham thích của HS. Các em hứng thú với những hoạt động tìm hiểu kiến thức mới. Điều này chứng tỏ  HS luôn ham thích  được học tập, hăng say tìm tòi và sáng  tạo.

Để thực hiện giảng dạy bằng phương pháp BTNB ở môn Khoa học, tôi nhận được sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình từ BGH nhà trường, chuyên môn nhà trường, đồng nghiệp và phụ huynh học sinh.

b/Khó khăn:

b.1/ Về điều kiện cơ sở vật chất

Trong các lớp học hiện nay, vẫn còn nhiều lớp bàn ghế được bố trí theo dãy, nối tiếp nhau, không thuận lợi cho việc tổ chức học theo nhóm.

          Mặt khác, số HS trên một lớp quá đông nên việc tổ chức học tập theo nhóm rất khó khăn.

b.2/ Về đội ngũ giáo viên

          Trình độ GV hiện nay chưa đồng đều cả về chuyên môn và năng lực sư phạm. Kiến thức chuyên sâu về khoa học của một số giáo viên còn hạn chế. Vì vậy,  GV thường gặp nhiều khó khăn trong việc trả lời, giải đáp các câu hỏi cũng như khó khăn trong việc lí giải thấu đáo các thắc mắc của HS nêu ra trong quá trình học. Đây là một trở ngại rất lớn trong việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực nói chung và phương pháp BTNB nói riêng.

         GV thường gặp nhiều khó khăn trong việc nêu ra tình huống mở đầu cho mỗi bài dạy bằng phương pháp BTNB. Thường thì tình huống đưa ra phải gắn với nội dung bài dạy, làm sao đảm bảo được vấn đề khơi sự tò mò, ham thích trước vấn đề sắp học nhưng vẫn "giấu kín được kết quả của bài học". Đây là việc làm gây nhiều lúng túng cho người dạy. Trong tiến trình dạy học, ở một số bài học, GV không có đủ kiến thức, khả năng để tìm ra một số thí nghiệm chứng minh cho kiến thức bài học trong trường hợp học sinh không tự nêu ra được thí nghiệm kiểm chứng cho biểu tượng ban đầu của mình.

 Do chưa hiểu đúng, hiểu sâu bản chất của phương pháp BTNB dẫn đến tình trạng áp dụng phương pháp BTNB máy móc, kém hiệu quả.

 Một số viên còn lúng túng trong việc thiết kế và thực hiện tiến trình tiết dạy môn Khoa học có áp dụng phương pháp BTNB.

Việc lựa chọn và sử dụng thiết bị dạy học trong phương pháp BTNB chưa phù hợp dẫn đến hiệu quả giờ dạy chưa cao.

 Kỹ thuật dạy học và rèn kỹ năng cho cho HS trong phương pháp BTNB còn hạn chế.

Năm học 2013 -2014, là năm học đầu tin tôi thực hiện dạy học bằng phương pháp BTNB ở môn Khoa học. Tuy có hiệu quả nhưng chưa cao vì GV và HS  còn những lúng túng và hạn chế nhất định. Cụ thể,  cuối năm học 2013 -2014, chất lượng  tôi khảo sát ở một lớp do tôi giảng dạy như sau: 

9 - 10

7 - 8

5 - 6

3 - 4

1 - 2

TS

%

TS

%

TS

%

TS

%

TS

%

25

69,5

8

22,2

3

8,3

/

 

/

 

 

( 36bài / 36 HS được KT)

b.3/ Về học sinh

  Mặc dù HS ở Tiểu học rất  ham thích  được học tập, hăng say tìm tòi. Các em rất tò mò và luôn muốn khám phá, điều này rất thuận lợi khi vận dụng phương pháp Bàn tay nặn bột. Nhưng một số kĩ năng của HS lại rất hạn chế:

Các em có thể biết về vấn đề đang tìm hiểu nhưng lại rất khó khăn khi  trình bày vấn đề. 

Các em chưa có thói quen kết hợp ghi chép trong quá trình tìm tòi, nghiên cứu. 

3. Các giải pháp đã tiến hành.

 Năm học 2013 - 2014, Sở Giáo dục và Đào tạo Kon Tum, phòng Giáo dục và Đào tạo TP Kon Tum  đã triển khai việc áp dụng phương pháp BTNB đối với môn Khoa học, Tự nhiên và Xã hội ở các trường Tiểu học. Là năm đầu thực hiện nên cả GV và HS còn những lúng túng, hạn chế nhất định. Mặc dù khi vận dụng phương pháp này, kết quả học tập của HS có tiến bộ nhưng chưa cao. Là GV trực tiếp giảng dạy, tôi vừa vận dụng và từng bước rút kinh nghiệm. Trên cơ sở lý luận và thực tế trải nhiệm của b¶n th©n, t«i ®· mạnh dạn đưa ra một số biện pháp khắc phục những tồn tại, hạn chế đó và đã thu được kết quả khả quan khi dạy học Khoa học lớp 4 có áp dụng phương pháp BTNB. Những biện pháp tôi đã thực hiện đơn giản và có tính khả thi cao. Đó là những biện pháp không quá khó song nó đòi hỏi người giáo viên phải thực sự có tâm huyết, say mê chuyên môn, kiên trì, không ngại khó khăn, vất vả. Sau đây là những biện pháp tôi đã vận dụng nhằm sử dụng hiệu quả phương pháp “Bàn tay nặn bột trong dạy học môn Khoa học lớp 4 ở trường Tiểu học.

3.1/  Việc đầu tiên tôi làm là tự nâng cao nhận thức của bản thân thông qua nghiên cứu tài liệu.

Việc nghiên cứu tài liệu  không  khó bởi hiện nay, công nghệ thông tin đã trở thành một công cụ hữu ích cho việc tìm tòi, nghiên cứu. Chúng ta đang thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục mà trong đó đổi mới phương pháp dạy học là một trong các nhiệm vụ cấp bách. Riêng với môn Khoa học, đổi mới phương pháp dạy học cũng chính là việc áp dụng phương pháp dạy học mới – Phương pháp BTNB. Từ đó, tôi đã chủ động tìm hiểu với mong muốn hiểu rõ hơn về bản chất của phương pháp BTNB.

Tôi nhận thấy rằng: Một trong những phương pháp có nhiều ưu điểm, đáp ứng được mục tiêu yêu cầu đổi mới và vận dụng tốt vào quá trình dạy học môn Khoa học lớp 4 ở Tiểu học hiện nay đó là phương pháp BTNB. Khi mà nền kinh tế tri thức đang dần dần chiếm ưu thế tại các quốc gia trên thế giới thì việc hình thành cho HS một thế giới quan khoa học và niềm say mê khoa học, sáng tạo là một mục tiêu quan trọng của giáo dục hiện đại.

         Bên cạnh đó, tôi xác định rõ: Cần hiểu đúng, hiểu sâu mục tiêu, bản chất của phương pháp BTNB trong dạy môn Khoa học. Thực tế cho thấy, do chưa hiểu đúng, hiểu sâu về phương pháp BTNB thì áp dụng phương pháp BTNB vào dạy môn Khoa học một cách máy móc, kém hiệu quả. Điều đó vô tình đã làm “méo mó”, làm mất đi tính tích cực, tính hiệu quả, tính ưu việt của phương pháp dạy học mới này. Để khắc phục được tình trạng này, hơn ai hết,  người giáo viên phải nỗ lực trong việc tiếp cận và nắm bắt phương pháp mới.

 Để hiểu đúng và sâu về phương pháp BTNB đối với môn Khoa học, tôi đã chủ động nghiên cứu các tài liệu của Bộ Giáo dục, tài liệu tập huấn về phương pháp BTNB, tham khảo thông tin trên mạng Internet, những quan điểm của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu về phương pháp BTNB để từ đó có nhận thức đúng và sâu về phương pháp này. Đó là phương pháp dạy học khoa học dựa trên cơ sở của sự tìm tòi,  nghiên cứu, áp dụng cho việc dạy học các môn khoa học tự nhiên. Phương pháp BTNB chú trọng đến việc hình thành kiến thức cho học sinh bằng các thí nghiệm tìm tòi, nghiên cứu để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống. Phương pháp BTNB luôn coi học sinh là trung tâm của quá trình nhận thức. Vì vậy, khi áp dụng phương pháp này, tuyệt đối tránh áp dụng một cách hình thức hoặc máy móc, thiếu khoa học. Điều đó ảnh hưởng không tốt đến việc hình thành kiến thức cho học sinh, nhất là HS ở bậc Tiểu học.

3.2/ Chủ động thiết kế và thực hiện tiến trình tiết dạy môn Khoa học có áp dụng phương pháp BTNB.

Trong quá trình dạy học môn Khoa học lớp 4, tôi chủ động nghiên cứu chương trình, tìm những bài dạy có thể áp dụng phương pháp BTNB. Thành công của tiết dạy phụ thuộc nhiều yếu tố trong đó không thể bỏ qua khâu thiết kế bài dạy và tiến trình lên lớp. Trong đó, tôi đặc biệt quan tâm đến các bước của tiến trình dạy học môn Khoa học có áp dụng phương pháp BTNB.

Khi dạy học, tôi đã vận dụng tiến trình trên theo phương pháp tích cực, sáng tạo và linh hoạt phù hợp với từng chủ đề nghiên cứu. Đó là điều thực sự cần thiết. Nói cách khác, mỗi bước của tiến trình được xác định như một yếu tố cần thiết để đảm bảo rằng quá trình khám phá của  HS được thông suốt về mặt tư duy. Tôi thiết nghĩ: để hiểu rõ và thực hiện đúng mục tiêu của từng bước là rất quan trọng và cần thiết.

* Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề.

          Ví dụ:  Bài “Mây được hình thành như thế nào? Mưa từ đâu ra?"-                        Khoa học lớp 4.

Khi thực hiện bước này, tôi thường chọn tình huống xuất phát ngắn gọn, gần gũi, dễ hiểu đối với HS. Tình huống xuất phát càng rõ thì việc dẫn nhập cho câu hỏi nêu vấn đề càng dễ. Bên cạnh đó, câu hỏi nêu vấn đề (câu hỏi lớn của bài học) cần đảm bảo yêu cầu phù hợp với trình độ, gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi, khám phá của học sinh. Tôi luôn chọn những câu hỏi "mở" đối với câu hỏi nêu vấn đề.

Với bài học trên, tôi cho học sinh quan sát một đoạn Video cảnh mây đen kéo đến và trời mưa. Sau đó đặt câu hỏi nêu vấn đề: Theo các em, mây được hình thành như thế nào? Mưa từ đâu ra?

Với những tình huống xuất phát và cách đặt câu hỏi nêu vấn đề như trên,  HS của tôi thực sự hào hứng ngay từ đầu tiết học. Các em “vào cuộc” một  cách thoải mái, bắt đầu cuộc “khám phá” thú vị.

*Bước 2: Bộc lộ biểu tượng (quan niệm) ban đầu của học sinh.

     Trong bước này, tôi khuyến khích HS nêu những suy nghĩ, nhận thức ban đầu của mình về sự vật hiện tượng mới bằng nhiều cách khác nhau như bằng cách nói, viết hay vẽ. Tôi luôn tôn trọng những suy nghĩ, nhận thức ban đầu của các em, tuyệt đối không biểu lộ thái độ không đồng tình với những biểu tượng (quan niệm) chưa đúng của học sinh. Vì vậy, HS trong lớp tôi không còn e ngại, các em dần mạnh dạn, tự tin  khi trình bày những suy  nghĩ của mình. Không khí lớp học thực sự sôi nổi.

Ví dụ:  Với bài học trên, tôi giao nhiệm vụ: Theo các em, mây được hình thành như thế nào? Mưa từ đâu ra? Các em hãy suy nghĩ và đưa ra ý kiến của mình về vấn đề  này, ghi lại ý kiến  (có thể ghi chép bằng lời, bằng hình vẽ, sơ đồ).

          Ví dụ về một vài suy nghĩ, nhận thức ban đầu của HS:

       + Mây do hơi nước tạo nên. Mưa từ mây ra.

       + Mây do khói tạo nên.

       + Khói ít tạo nên mây trắng, khói nhiều tạo nên mây đen.

       + Hơi nước ít tạo nên mây trắng, hơi nước nhiều tạo nên mây đen.

       + Mưa từ các đám mây rơi xuống.

       + Mưa do nước trong mây tạo nên.

       + Khi có mây đen thì sẽ có mưa.

       + Khi mây nhiều thì sẽ tạo thành mưa.

       Thể hiện bằng hình vẽ: Nhiều giọt nước nhỏ bay lên tạo thành đám mây đen, những giọt nước to từ đám mây đen rơi xuống đất…

          Sau khi HS bộc lộ được biểu tượng ban đầu về vấn đề tìm hiểu, tôi khéo léo hướng dẫn học sinh so sánh, phân nhóm biểu tượng ban đầu của HS.

          Ví dụ: Với bài học trên, Từ những suy nghĩ, nhận thức ban đầu của HS như trên, tôi hướng dẫn để học sinh phân nhóm biểu tượng như sau:

       * + Mây do hơi nước tạo nên. Mưa từ mây ra.

+ Mưa từ các đám mây rơi xuống.

          + Mưa do nước trong mây tạo nên.

          + Khi có mây đen thì sẽ có mưa.

          + Khi mây nhiều thì sẽ tạo thành mưa.

        *+ Mây do khói tạo nên.

          + Khói ít tạo nên mây trắng, khói nhiều tạo nên mây đen.

       * + Hơi nước ít tạo nên mây trắng, hơi nước nhiều tạo nên mây đen.

          (Phân thành 3 nhóm có ý kiến tương tự như nhau.)

* Lưu ý khi so sánh, phân nhóm biểu tượng ban đầu của học sinh:

         - Phân nhóm biểu tượng ban đầu chỉ mang tính tương đối.

          - Không nên đi quá sâu vào chi tiết vì càng chi tiết thì càng mất thời gian và các biểu tượng ban đầu của học sinh nếu không nhìn nhau để viết (hay vẽ) chắc chắn sẽ có những chi tiết khác nhau.

          - Giáo viên nên gợi ý, định hướng cho học sinh thấy những điểm khác biệt giữa các ý kiến liên quan đến các kiến thức chuẩn bị học.

          - Giáo viên, tùy tình hình thực tế ý kiến phát biểu, nhận xét của HS để quyết định phân nhóm biểu tượng ban đầu.

           Đôi khi có những đặc điểm khác biệt rõ rệt nhưng lại không liên quan đến kiến thức bài học được HS nêu ra thì GV nên khéo léo giải thích cho học sinh ý kiến đó rất thú vị nhưng trong khuôn khổ kiến thức của lớp mà các em đang học chưa đề cập đến vấn đề đó bằng cách đại loại như: "Ý kiến của em A rất thú vị nhưng trong chương trình học ở lớp 4 của chúng ta chưa đề cập tới. Các em sẽ được tìm hiểu ở các bậc học cao hơn (hay các lớp sau)". Nói như vậy nhưng GV cũng nên ghi chú lên bảng để khuyến khích học sinh phát biểu ý kiến và không quên đánh dấu đây là câu hỏi tạm thời chưa xét đến ở bài học này.

*Bước 3: Đề xuất câu hỏi và phương án thực nghiệm nghiên cứu.

          Từ những khác biệt và phong phú về biểu tượng ban đầu của HS, tôi khéo léo lựa chọn những biểu tượng ban đầu khác biệt trong lớp để giúp HS so sánh, từ đó giúp HS đặt câu hỏi liên quan đến nội dung bài học. Theo tôi, đây là bước khá khó khăn vì GV phải lựa chọn các biểu tượng ban đầu tiêu biểu trong hàng chục biểu tượng của HS một cách nhanh chóng theo mục đích dạy học, đồng thời linh hoạt điều khiển thảo luận của học sinh nhằm giúp học sinh đề xuất câu hỏi từ những khác biệt đó theo ý đồ dạy học. Thực tế cho thấy, các biểu tượng ban đầu càng khác nhau thì học sinh càng bị kích thích ham muốn tìm tòi kiến thức.

      Ví dụ: Với bài học trên, HS đã đặt ra nhiều câu hỏi thắc mắc khác nhau như:

        + Có phải hơi nước tạo nên mây hay không ?

        + Có phải khói bay lên tạo thành các đám mây trên trời ?

        + Có phải mưa từ mây mà có ?

        + Hơi nước bay lên có tạo thành các đám mây hay không ?

        + Có phải nhiều hạt nước nhỏ bay lên thì tạo thành mây ?

        + Vì sao lại có mây đen, lại có mây trắng ?

        + Mưa do đâu mà có ?

        + Khi nào thì có mưa ?

        + ....  

          Chúng ta sẽ nhận ra: Những câu hỏi trên là những nghi vấn từ những điểm khác biệt của các biểu tượng ban đầu. Từ những câu hỏi đề xuất, tôi tổng hợp và lựa chọn câu hỏi phù hợp với nội dung tìm hiểu của bài.

          Ví dụ: Ở bài học trên, tôi có thể tổng hợp các câu hỏi:

         + Mây được hình thành như thế nào ?

         + Mưa do đâu mà có ?

  Sau đó tôi đề nghị các em đề xuất phương án tìm tòi, nghiên cứu bằng cách đặt câu hỏi như:

          - Theo các em, làm thế nào để chúng ta tìm được câu trả lời cho các câu hỏi nói trên ?

          - Bây giờ, các em hãy suy nghĩ để tìm phương án giải quyết các băn khoăn, thắc mắc mà lớp mình đặt ra ? ...

         Trong bước này, học sinh có thể đưa ra nhiều phương án thực nghiệm khác nhau, có những phương án học sinh đề xuất phức tạp và không thể thực hiện được hoặc có những đề xuất rất  “ngây thơ” song tôi luôn bình tĩnh, khéo léo lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết vấn đề. Tuyệt đối tránh nhận xét tiêu cực hoặc có thái độ nóng nảy khiến các em ngại phát biểu. Với học sinh nêu ý đúng nhưng ngôn từ chưa chuẩn xác hoặc diễn đạt chưa rõ, tôi giúp các em dần hoàn thiện diễn đạt. Đây chính là cách rèn luyện ngôn ngữ cho HS.

Ví dụ1: Ở bài học trên, tôi thấy lựa chọn phương pháp quan sát tranh ảnh, đọc và tìm hiểu tài liệu là thích hợp nhất. Nếu học sinh đưa ra phương pháp quan sát thực tế hoặc làm thí nghiệm, tôi sẽ giải thích với các em là: Hiện tại trong lúc này trời không có mưa nên ta chọn phương pháp quan sát thực tế không phù hợp lắm. Làm thí nghiệm để tìm hiểu về vấn đề này, chúng ta chưa đủ khả năng. Vì vậy ta nên chọn phương pháp quan sát tranh ảnh, đọc và tìm hiểu tài liệu là thích hợp nhất.

Ví dụ2: Bài “Không khí có những tính chất gì?” - Khoa học lớp 4    

 Để biết không khí có hình dạng nhất định hay không, HS đưa các phương án như xem thông tin trong SGK; tìm hiểu thộng tin qua mạng Internet, thực hành với các túi nilon, quả bóng bay với các hình dạng, kích thước khác nhau. Tôi giúp các em lựa chọn phương án: Thực hành với các túi nilon, quả bóng bay với các hình dạng, kích thước khác nhau.  

*Bước 4: Tiến hành thực hiện giải pháp tìm tòi – nghiên cứu.

Từ những phương án thực nghiệm tìm tòi và  nghiên cứu mà HS nêu ra, tôi khéo léo nhận xét và lựa chọn dụng cụ thí nghiệm hay các thiết bị dạy học thích hợp để HS tiến hành nghiên cứu. Tôi luôn ưu tiên lựa chọn phương án thực hiện thí nghiệm trực tiếp trên vật thật. Nếu không thí nghiệm trên vật thật có thể làm trên mô hình hoặc cho HS quan sát tranh vẽ…

Đặc trưng của môn Khoa học là tìm tòi, nghiên cứu để có được kiến thức dựa trên cơ sở khoa học. Trong đó phương án làm thí nghiệm là chủ yếu. Tiến hành làm thí nghiệm phải đảm bảo an toàn và thành công. Vì vậy, khi tiến hành thực hiện thí

nghiệm, GV nêu rõ yêu cầu và mục đích thí nghiệm hoặc yêu cầu học sinh cho biết mục đích thí nghiệm chuẩn bị tiến hành để làm gì? Lúc này giáo viên mới hướng dẫn học sinh lựa chọn các dụng cụ và vật liệu thí nghiệm tương ứng với hoạt động. Sở dĩ như vậy là vì, nếu để các vật dụng thí nghiệm sẵn trên bàn, học sinh sẽ nghịch các đồ vật mà không chú ý đến các đồ vật khác trong lớp; hoặc học sinh tự ý thực hiện thí nghiệm trước khi  thực hiện lệnh của giáo viên ban ra; hoặc học sinh sẽ dựa vào đó để đoán các thí nghiệm cần phải làm (trường hợp này mặc dù học sinh có thể đề xuất thí nghiệm đúng nhưng ý đồ dạy học của giáo viên không đạt). Không quên nhắc nhở HS đảm bảo an toàn khi tiến hành thí nghiệm.

          Tiến hành thí nghiệm tương ứng với môđun kiến thức. Làm lần lượt các thí  nghiệm nếu có nhiều thí nghiệm. Mỗi thí nghiệm thực hiện xong nên dừng lại để học sinh rút ra kết luận (tìm thấy câu trả lời cho các vấn đề đặt ra tương ứng).
      Bên cạnh đó, tôi hướng dẫn các em có thói quen ghi lại kết quả thí nghiệm vào  vở thực hành. Phần ghi chép này tôi để học HS chép tự do, không gò bó, khuôn mẫu máy móc, nhất là đối với những lớp mới làm quen với phương pháp BTNB.

          Khi HS làm thí nghiệm, GV bao quát lớp, quan sát từng nhóm. Nếu thấy nhóm hoặc HS nào làm sai theo yêu cầu thì GV chỉ nhắc nhỏ trong nhóm đó hoặc với riêng học sinh đó, không nên thông báo lớn tiếng chung cho cả lớp vì làm như vậy sẽ phân tán tư tưởng và ảnh hưởng đến công việc của các nhóm HS khác.

         Tôi chú ý yêu cầu học sinh thực hiện độc lập các thí nghiệm trong trường

hợp các thí nghiệm được thực hiện theo từng cá nhân. Nếu thực hiện theo nhóm thì cũng yêu cầu tương tự như vậy. Thực hiện độc lập theo cá nhân hay nhóm để tránh việc học sinh nhìn và làm theo cách của nhau, thụ động trong suy nghĩ và cũng tiện lợi cho giáo viên phát hiện các nhóm hay các cá nhân xuất sắc trong thực hiện thí nghiệm nghiên cứu, đặc biệt là các thí nghiệm được thực hiện với các dụng cụ, vật liệu thí nghiệm giống nhau nhưng nếu bố trí thí nghiệm không hợp lý sẽ không thu được kết quả.  

Ví dụ: Bài “ Vật dẫn nhiệt và vật cách nhiệt” - Khoa học lớp 4.

Để chứng minh Không khí có tính dẫn nhiệt kém, học sinh sẽ tiến hành làm thí nghiệm như sau:  Dùng 2 lái li, một cái li  được quấn bằng giấy báo đẻ phẳng và quấn thật chặt. Một cái li được quấn  bằng giấy báo vò nhăn và quấn lóng. Sau đó đổ vào 2 li một lượng nước nóng bằng nhau. Để một lúc, dùng nhiệt kế đo nhiệt độ ở 2 li nước. Kết quả thu được là: Li quấn chặt giấy báo nhiệt độ thấp hơn li quấn giấy báo và nhăn và quấn lỏng. Từ đó HS suy luận: Vì li quấn bằng giấy báo vò nhăn và quấn lỏng, giữa các lớp giấy báo có nhiều lỗ hổng chứa không khí hơn nên khi nước nóng toả nhiệt ra bên noài, đi qua li, đi qua không khí giữa các lớp giấy báo nữa nên toả nhiệt lâu hơn, đẫn đến nước trong li nóng lâu hơn. Từ đó các em sẽ kết luận: Không khí dẫn nhiệt kém. Thí nghiệm trên sẽ không thành công nếu học sinh không giành thời gian sau khi đổ nước nóng vào 2 li rồi để một lúc mới đo nhiệt độ. Vì đo ngay sau khi đổ nước vào li thì không đủ thời gian để 2 li nước toả nhiệt, dẫn đến nhiệt độ đo được thường là bằng hoặc gần như bằng nhau. Như vậy, nếu bố trí thí nghiệm không hợp lý sẽ không thu được kết quả.

*Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến thức. Đây là bước cuối cùng trong 5 bước lên lớp áp dụng phương pháp BTNB. Ở bước này, tôi kết luận và hệ thống lại kiến thức của bài. Trước khi kết luận, tôi yêu cầu một vài học sinh nêu lại kết luận sau khi thực nghiệm. Tùy từng bài, tôi khắc sâu kiến thức cho học sinh bằng cách cho học sinh nhìn lại, đối chiếu lại với những ý kiến ban đầu. Như vậy, tự học sinh sẽ phát hiện mình sai hay đúng để tự điều chỉnh kiến thức một cách chủ động. Đó cũng là cách giúp học sinh nhớ lâu và khắc sâu kiến thức.

          Như vậy, áp dụng phương pháp BTNB thành công phụ thuộc nhiều vào việc thiết kế và thực hiện các bước lên lớp như đã nêu trên. Trong thực tế, có những bài học hoặc những hoạt động trong bài có kiến thức gần gũi với học sinh, chúng ta nên vận dụng các phương pháp dạy học linh hoạt, tránh gò ép việc vận dụng phương pháp BTNB để tìm hiểu kiến thức đó. Bởi vì với môn Khoa học lớp 4 không phải bài nào cũng áp dụng được phương pháp BTNB.

          Bên cạnh đó, tôi cho rằng dạy học theo phương pháp BTNB bắt buộc giáo viên phải năng động, không theo một khuôn mẫu (một giáo án) nhất định nào. Giáo viên được quyền chủ động thiết kế tiến trình bài dạy của mình phù hợp với từng bài dạy, lớp học và đối tượng học sinh của lớp. Vì vậy, không nhất thiết bài soạn, tiết dạy nào cũng phải có đủ cả 5 bước như đã trình bày ở trên.

3.3/ Lựa chọn và sử dụng thiết bị dạy học hiệu quả trong phương pháp BTNB.

          Cần phải khẳng định rằng thiết bị dạy học (TBDH) là một phần không thể thiếu của quá trình dạy học. Đặc biệt là đối với phương pháp BTNB, trong bước thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu, TBDH làm cho tiết học trở nên sinh động và dễ hiểu. Học sinh được tri giác trực tiếp đối tượng, được tự mình kiểm chứng những hiện tượng khoa học xảy ra. TBDH giúp nâng cao hứng thú học tập, nâng cao lòng tin của HS vào khoa học.

          Trong phương pháp BTNB, TBDH tôi sử dụng bao gồm cả TBDH truyền thống (bảng đen, phấn trắng, mô hình, vật thật, tranh ảnh, dụng cụ thí nghiệm,...) và các TBDH hiện đại (như máy tính, máy chiếu, băng đĩa, …). Việc kết hợp hài hòa giữa các loại TBDH sẽ tạo được hứng thú, tăng hiệu quả học tập cho học sinh. Tuy nhiên, chúng ta cần phải sử dụng TBDH phù hợp, đúng lúc, đúng chỗ để tạo được hiệu quả cao nhất. Chẳng hạn ở bước “Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề”, tôi thường sử dụng tranh ảnh hay video khoa học để kích thích hứng thú nhận thức và khơi dậy những quan niệm ban đầu vốn có của các em về chủ đề nghiên cứu.

          Ví dụ1: Bài “Mây được hình thành như thế nào?Mưa từ đâu ra ?” –Khoa học lớp 4.

         Ở tình huống xuất phát, tôi sử dụng đoạn video cảnh trời đang nắng, cảnh mây bay trên trời, rồi mây kéo đến nhiều hơn, mây đen che kín bầu trời, rồi trời đổ mưa. Những hạt mưa rơi xuống mặt đất. Sau đó, tôi đưa ra câu hỏi: Theo các em, mây được hình thành như thế nào ? Mưa từ đâu ra ?               

         Đôi khi trong bước “Thực nghiệm tìm tòi, nghiên cứu”, tôi cho các em sử dụng tranh ảnh khoa học, vật thật, mô hình,… để giúp học sinh tìm ra được đặc điểm, tính chất của đối tượng cần nghiên cứu.

          Ví dụ2:  Bài “Nước có những tính chất gì ?” – Khoa học 4

         Tôi sử dụng vật thật là nước (nước sạch ở thể lỏng) và nước cam (để học sinh quan sát, so sánh với nước) rồi hướng dẫn các em quan sát bằng nhiều giác

quan như thị giác, khướu giác, vị giác để từ đó rút ra tính chất: nước trong suốt, không màu, không mùi, không vị. 

         Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy: việc sử dụng TBDH trong phương pháp BTNB có những yêu cầu khác xa so với các phương pháp dạy học khác. Trong các phương pháp dạy học thông thường, việc sử dụng tranh ảnh, bảng biểu, mô hình, vật thật, … nhiều khi chỉ mang tính minh họa, kiểm chứng kiến thức giáo viên đưa ra. Còn đối với phương pháp BTNB, tôi chỉ đưa cho HS tìm hiểu tranh vẽ khoa học, mô hình, vật thật, … khi học sinh đã đề xuất được các phương án tìm tòi, nghiên cứu.

Khi khai thác tranh ảnh khoa học, vật thật,… trong phương pháp BTNB, tôi lưu ý sử dụng chúng trong bước “Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề” sao cho không lộ ra kiến thức của bài học cũng như các thí nghiệm của các bước tiếp theo vì điều đó sẽ làm mất đi tính đặc trưng của phương pháp BTNB.

Với các bài có sử dụng thí nghiệm trực tiếp, trước khi lên lớp, tôi chủ động làm thử các thí nghiệm với các thiết bị có sẵn để không lúng túng trong quá trình thực hiện trên lớp, đồng thời chủ động kiểm tra kết quả thí nghiệm xem có đảm bảo yêu cầu đề ra không. Sau khi đã kiểm soát được sự an toàn và thành công của các thí nghiệm, khi lên lớp, tôi mới cho học sinh thực hành thí nghiệm đó trên cơ sở học sinh đề xuất phương án thí nghiệm.

Việc chủ động làm thử các thí nghiệm với các thiết bị có sẵn còn giúp tôi lựa chọn, chuẩn bị  vật liệu  để học sinh làm thí nghiệm sao cho hợp lí và hiệu quả nhất.

Ví dụ: Bài “ Vật dẫn nhiệt và vật cách nhiệt” - Khoa học lớp 4.

Trước khi lên lớp, tôi làm thử thí nghiệm: Dùng một li thuỷ tinh, đổ nước sôi vào rồi thả vào li nước đó 2 cái muỗng. Một cái bằng nhựa, một cái bằng kim loại. Để một lúc, ta sẽ nhận thấy cái muỗng bằng kim loại nóng hơn so với cái muỗng nhựa. Điều đó dẫn đến kết luận: Vật dẫn nhiệt là kim loại; Vật cách nhiệt là nhựa. Trường hợp này, nếu lựa chọn vật liệu là những cái muỗng bằng kim loại, loại dày thì thời gian để  cái muỗng nóng sẽ  lâu hơn nếu là một cái muỗng bằng kim loại, loại mỏng. Mà học sinh Tiểu học thì các em hiếu động, thích tìm tòi, khám phá ngay nên các em ít khi chờ đợi lâu. Điều này dẫn đến, khi dùng tay sờ vào cán của 2 cái muỗng, các em không nhận thấy cái nào nóng hơn, các em khó đưa ra được kết luận kim loại hay nhựa là vật dẫn nhiệt. Chính vì vậy, tôi lựa chọn những cái muỗng kim loại loại mỏng cho các em làm thí nghiệm.

          Có thể khẳng định rằng: TBDH góp phần không nhỏ trong việc giúp học sinh khám phá tìm tòi kiến thức mới. TBDH còn giúp học sinh phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là khả năng quan sát và tư duy tốt. Từ đó giúp học sinh hiểu sâu và nhớ lâu kiến thức khoa học.

3.4/ Coi trọng kỹ thuật dạy học và rèn kỹ năng cho cho học sinh trong phương pháp BTNB.

a. Quan tâm đến khâu tổ chức lớp học.

          Đây là một trong các điều kiện giúp cho việc áp dụng phương pháp BTNB có thành công hay không. Để thuận tiện cho việc tổ chức thảo luận nhóm, hoạt động nhóm, tôi đã chủ động sắp xếp lại bàn ghế trong lớp học theo số lượng học sinh một cách hài hòa, đặc biệt chú ý đến hướng ngồi của của HS sao cho tất cả học sinh đều nhìn rõ thông tin trên bảng. Chú ý đến vị trí ngồi của học sinh bị cận thị, loạn thị, khoảng cách giữa các nhóm không quá chật đảm bảo học sinh di chuyển dễ dàng,… Ngay từ đầu năm học, tôi đã xây dựng góc thư viện riêng của lớp để làm nơi đựng thiết bị và vật dụng thí nghiệm cho HS. Vì vậy, trong các giờ học khi chưa thí nghiệm, vật dụng thí nghiệm được cất giữ, không bày sẵn trên bàn học sinh làm phân tán sự chú ý không cần thiết đối với HS trong lớp.

          Tôi quan tâm đến không khí làm việc trong lớp học. Để lớp học có bầu không khí học tập sôi nổi, tôi khuyến khích các em bày tỏ ý kiến dựa trên mối quan hệ bình đẳng, tôn trọng và đối xử công bằng. Tránh khen ngợi quá mức một vài học sinh nào đó hoặc để một vài em học tốt làm thay công việc của cả nhóm. Tôi luôn bao quát lớp,  khuyến khích tất cả các em phát biểu ý kiến, động viên kịp thời các em có ý tưởng tốt nhưng rụt rè không dám trình bày.

          Sau một thời gian ngắn, lớp học do tôi giảng dạy đã có được một không khí làm việc tốt. Các em thực sự thoải mái trong giờ học, việc học không còn là áp lực đối với các em. Các em đều có thể trực tiếp được tham gia các hoạt động trong giờ học môn Khoa học như: thực hiện thí nghiệm, suy nghĩ, thảo luận, trình bày. Hơn thế nữa, các em được thoải mái bày tỏ, bộc lộ những suy nghĩ (bằng lời nói, viết, vẽ,… ), những ý tưởng, quan niệm ban đầu của mình mà không “sợ” đúng, sai. Điều đó là một trong những thành công của tôi khi áp dụng phương pháp BTNB.

b. Giáo viên cần tổ chức tốt hoạt động thảo luận nhóm cho học sinh.

Hoạt động tìm tòi- nghiên cứu để xây dựng kiến thức mới của học sinh là kết quả của hoạt động hợp tác. Đó cũng là đặc trưng của phương pháp BTNB. Với tôi, thảo luận nhóm của học sinh được thực hiện ở nhiều thời điểm trong dạy học bằng phương pháp BTNB. Có thể là thảo luận để bộc lộ quan điểm ban đầu của học sinh, có thể thảo luận để đề xuất câu hỏi, đề xuất phương án thí nghiệm hay có thể để rút ra kết luận sau một thí nghiệm hay rút ra kiến thức cho bài học. 

      Khi áp dụng hoạt động thảo luận nhóm trong phương pháp BTNB, tôi luôn chú ý một số nội dung sau:

          - Thực hiện tốt công tác tổ chức nhóm và hoạt động nhóm cho học sinh. Hình thành cho HS thói quen học tập theo nhóm. Các em phải từng bước biết tự điều hành trong nhóm. Biết chia sẻ với bạn, biết đánh giá ý kiến của bạn, biết thống nhất và đi đến kết luận. Đặc biệt là vai trò của nhóm trưởng, phải tự tin, trình bày ý kiến cá nhân cũng như thống nhất ý kiến của cả nhóm rõ ràng. Năng lực điều hành nhóm tốt, có uy tín với các bạn trong nhóm.

          - Chỉ rõ việc thành lập nhóm làm việc (nhóm nhỏ, nhóm lớn,…); nội dung thảo luận; mục đích thảo luận. Lệnh yêu cầu của giáo viên cần rõ ràng, chi tiết để học sinh hiểu rõ và thực hiện đúng yêu cầu.

          - Tạo không khí lớp học sôi nổi nhưng tránh lộn xộn, quá ồn ào ảnh hưởng nhóm học khác.

          - Bao quát lớp, động viên, khuyến khích tất cả học sinh tham gia thảo luận và chủ động trình bày ý kiến trước nhóm.

          - Không chê bai hoặc nhận xét tiêu cực về ý kiến của cá nhân, của nhóm để học sinh mạnh dạn bày tỏ ý kiến cá nhân, ý kiến của nhóm trước lớp.

- Khi học sinh bế tắc trong thảo luận, có thể sử dụng các câu hỏi gợi ý hoặc những câu khẳng định mang tính chất dẫn dắt để học sinh chú ý đến dữ liệu, thông tin, … liên quan đến việc tìm ra câu trả lời như : “Chúng ta hãy nhìn vào số liệu này….”; “Các em để ý ở ….”; “Các em hãy thử …”, …

- Khi học sinh thảo luận nhóm, tôi chủ động di chuyển đến các nhóm, quan sát, bao quát lớp, phát hiện các nhóm thực hiện lệnh thảo luận sai để điều chỉnh kịp thời. Đồng thời nắm bắt được các ý kiến thảo luận của các nhóm để lựa chọn nhóm có ý kiến thiếu chính xác nhất trình bày trước, sau đó lần lượt đến các nhóm khác và cuối cùng thường là nhóm có ý kiến tốt nhất.

c. Coi việc “đặt câu hỏi” khi áp dụng phương pháp BTNB như một “nghệ thuật”.

          Tôi luôn xác định: Trong dạy học môn Khoa học lớp 4 theo phương pháp BTNB, câu hỏi của giáo viên đóng một vai trò quan trọng trong sự thành công của phương pháp. Câu hỏi “tốt” có thể giúp HS xác định rõ phần trả lời của mình và làm cho tiến trình dạy học theo đúng hướng. Một câu hỏi "tốt" là một câu hỏi kích thích sự tìm tòi và khám phá của học sinh. Đó là câu hỏi “mở” vì nó kích thích một “hành động mở”. Nên hạn chế dùng những câu hỏi “đóng”.

     Ví dụ: Câu hỏi “mở”:

- Theo các em, nước có những tính chất gì?

- Trong tự nhiên, khi nào nước tồn tại ở thể khí?

- Theo các em, vì sao có hiện tượng ngày và đêm trên Trái đất?

          Câu hỏi “đóng”:

- Có phải nước không có hình dạng nhất định không?

- Tên của đồ vật này là gì?

- Có phải nước tồn tại ở ba thể: rắn, lỏng và khí ?

          Trong dạy học môn Khoa học áp dụng phương pháp BTNB, tôi lưu ý đến hai dạng câu hỏi. Đó là câu hỏi nêu vấn đềcâu hỏi gợi ý. Đối với câu hỏi nêu vấn đề, đây là câu hỏi nhằm mục đích làm bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh. Vì vậy, tôi thật sự thận trọng trong việc lựa chọn câu hỏi nêu vấn đề vì chất lượng câu hỏi sẽ ảnh hưởng rất lớn đến ý đồ dạy học ở các bước tiếp theo, nó quyết định đến sự thành công của bài học. Còn câu hỏi gợi ý là những câu hỏi tôi thường đặt ra trong quá trình làm việc của học sinh. Câu hỏi gợi ý có thể là câu hỏi “ít mở” hoặc có thể là câu hỏi “đóng”. Đó là những câu hỏi nhằm gợi ý hoặc định hướng cho HS rõ hơn hoặc kích thích một suy nghĩ mới của HS.

Ví dụ: - Theo em, điều gì sẽ xảy ra?

 - Vì sao em nghĩ kết quả này khác với kết quả những thí nghiệm trước ?

           - Đâu là sự khác nhau giữa những sự vật này ? ...

 Khi đặt câu hỏi gợi ý, tôi thường dùng các cụm từ như “Theo các em,…”, “Em nghĩ gì …”, “Theo ý em,…” vì các cụm từ này cho thấy giáo viên không yêu cầu học sinh đưa ra một câu trả lời chính xác mà chỉ yêu cầu học sinh giải thích ý kiến, đưa ra nhận định của các em mà thôi.

Qua thực tế giảng dạy, để có được những câu hỏi “tốt”, đặc biệt là những câu hỏi nêu vấn đề, tôi đã rất thận trọng, chuẩn bị kỹ những câu hỏi có thể đề xuất cho học sinh. Tôi đã thảo luận, trao đổi cùng giáo viên khác hoặc đồng nghiệp khác trường nhưng dạy cùng khối lớp để tham khảo cách đặt câu hỏi. Làm như vậy sẽ tốt hơn việc tự mình đặt câu hỏi vì có thể do chủ quan mà tôi chưa đánh giá đúng chất lượng câu hỏi mình đặt ra. Khi có sự góp ý của đồng nghiệp, tôi sẽ tham khảo và điều chỉnh câu hỏi cho phù hợp và hay hơn. Cứ như vậy, tôi dần rút ra cho mình kinh nghiệm trong việc đặt câu hỏi. Nhờ vậy mà những tiết dạy môn Khoa học có áp dụng phương pháp BTNB của tôi trở nên sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn học sinh và đạt hiệu quả như mong muốn.

* Một số lưu ý khi đặt câu hỏi cho học sinh:

- Khi đặt câu hỏi nên để một thời gian ngắn cho HS suy nghĩ hoặc có thời gian trao đổi nhanh với bạn , từ đó giúp HS tự tin hơn khi trình bày và trình bày mạch lạc hơn khi có thời gian chuẩn bị.
         - Tuyệt đối không được gọi tên HS sau đó mới đặt câu hỏi.
         - Khi nêu câu hỏi, giáo viên cần nói to, rõ. Nếu trường hợp học sinh chưa

nghe rõ câu hỏi thì phải nhắc lại, tuy nhiên không nên nhắc lại nhiều lần vì làm như vậy sẽ làm phân tán HS (cắt tạm thời suy nghĩ của học sinh) do học sinh tưởng rằng GV đưa ra câu hỏi mới.

          - Câu hỏi không nên quá dài vì như vậy học sinh sẽ không thể nắm bắt yêu cầu của câu hỏi.

          - Đối với các câu hỏi gợi ý, giáo viên nên đặt câu hỏi ngắn, yêu cầu trong một phạm vi hẹp mà mình muốn gợi ý cho học sinh. Nếu là những câu hỏi gợi ý cho một nhóm khi các học sinh đang thảo luận thì chỉ nên hỏi với một  âm lượng

vừa đủ cho nhóm này nghe để tránh phân tán suy nghĩ của các nhóm khác không liên quan.

          - Trong khi điều khiển tiết học, nếu giáo viên đặt câu hỏi mà học sinh không hiểu, hiểu sai ý hoặc câu hỏi dẫn đến nhiều cách nghĩ khác nhau, giáo viên nhất thiết phải đặt lại câu hỏi cho phù hợp. Tuyệt đối không được cố chấp tiến tới vì làm như vậy sẽ phá vỡ hoàn toàn ý đồ dạy học ở các bước tiếp theo.

d. Rèn luyện ngôn ngữ cho học sinh thông qua dạy học theo phương pháp BTNB.

          Bên cạnh hoạt động khám phá kiến thức, học sinh cần được rèn ngôn ngữ nói và viết. Đây chính là đặc điểm quan trọng của phương pháp BTNB và cũng là nhiệm vụ quan trọng trong dạy học ở bậc tiểu học khi mà học sinh đang trong quá trình phát triển ngôn ngữ.

          Thông qua học môn Khoa học với phương pháp BTNB, học sinh của tôi được rèn luyện ngôn ngữ nói và viết. Để tổ chức trong lớp học một sự giao tiếp bằng lời bổ ích, tôi luôn tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc trao đổi và những cuộc tiếp xúc tập thể mà ở đó học sinh có thể thảo luận với nhau dễ dàng. Các em được diễn đạt các ý kiến hay quan niệm của mình, từ đặt câu hỏi đề xuất băn khoăn, thắc mắc; dùng lời nói miêu tả lại các quan sát của mình; trao đổi thông tin cùng các bạn trong nhóm, lớp; tranh luận để bảo vệ các ý kiến của mình. Bên cạnh đó, ngôn ngữ viết cũng được chú trọng. Học sinh diễn đạt lại suy nghĩ của mình thông qua ngôn ngữ viết. Khi sử dụng ngôn ngữ này, các em có thể viết cho bản thân mình nhằm định hướng hành động, ghi nhớ và khắc sâu kiến thức. Các em có thể viết cho người khác nhằm mục đích truyền đạt, giải thích, đặt câu hỏi và tổng hợp ý kiến.

Thực tế chứng minh, trong lớp tôi dạy đầu năm có một số em có khó khăn về ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, qua các tiết học có áp dụng phương pháp BTNB, được sự khuyến khích của cô, các em đã phát biểu và tự ghi lại ý kiến của mình một cách tự giác hơn, mạnh dạn hơn, việc sử dụng từ ngữ cũng từ đó mà chắt lọc và chính xác hơn. Cuối năm học, khả năng sử dụng ngôn ngữ nói và viết của các em tiến bộ rõ rệt. Điều đó ảnh hưởng rất tích cực đến việc tiếp thu kiến thức môn Khoa học nói riêng và các môn học khác nói chung, đặc biệt là đối với môn Tiếng Việt.

e. Hướng dẫn học sinh có thói quen sử dụng vở thực hành.

Lý thuyết và thực tế dạy học đã chứng minh vở thực hành là một đặc trưng quan trọng trong phương pháp BTNB. Vì vậy, tôi luôn quan tâm đến việc sử dụng vở thực hành của học sinh trong lớp. Thông qua việc ghi chép trong vở thực hành, tôi giúp các em được rèn ngôn ngữ viết, đồng thời thông qua đó các em được tập làm quen với công tác nghiên cứu khoa học. Vở thực hành không phải là vở nháp, cũng không phải vở ghi chép thông thường, càng không phải là quyển vở giáo viên dùng để sửa lỗi của học sinh mà nhằm mục đích chính là để học sinh tự do diễn đạt suy nghĩ, ý kiến của mình thông qua ngôn ngữ viết. Vở thực hành của học sinh được học sinh lưu giữ. Tôi luôn coi đó là như là một phần biểu hiện sự tiếp thu kiến thức, thái độ học tập và làm việc của học sinh. Thông qua vở thực hành, tôi có thể nhận xét và đánh giá quá trình tiến bộ của học sinh trong học tập. Qua vở thực   hành, phụ huynh cũng có thể đánh giá được tình hình học tập của con em mình.

Đối với vở thực hành của học sinh, tôi luôn tôn trọng cái “tôi” của các em. Nếu kết luận của bài học khác với những biểu tượng, quan niệm ban đầu của học sinh, tôi hướng dẫn các em tự nhận thấy, tự ghi chép lại bằng bút khác màu kiến thức đúng chứ không sửa lỗi trong vở của các em. Việc không sửa lỗi trong vở thực hành của học sinh giúp các em tự tin hơn, mạnh dạn hơn trong giao tiếp, trong việc bày tỏ ý kiến cá nhân mà không sợ bị chê bai, đánh giá.

          Tuy nhiên, tôi luôn nhắc nhở các em giữ gìn vở thực hành cẩn thận như các loại vở ghi chép khác. Đối với học sinh trong lớp, tôi yêu cầu các em chuẩn bị vở thực hành là loại vở có kẻ ô li. Điều đó giúp các em dễ dàng hơn trong việc ghi chép, vẽ hình hay kẻ bảng. Bên cạnh đó, tôi có một số các lưu ý sau:

- Cần sử dụng ít nhất hai màu mực để ghi chép. (một màu mực dùng để ghi chép ý kiến cá nhân và thảo luận nhóm, một màu mực dùng để ghi chép kiến thức của bài sau khi thảo luận cả lớp).

          - Nên sử dụng bút chì khi vẽ hình để dễ tẩy xóa, sửa chữa khi cần thiết.

- Tạo thói quen ghi chép ngày, tháng vào đầu trang vở khi bắt đầu tiết học.

          Tuy nhiên, vở thực hành chỉ hữu ích thực sự đối với học sinh khi các em sử dụng thuần thục việc ghi chép trong các hoạt động học tập của mình. Từ thực tế dạy học, tôi nhận thấy để tạo được thói quen sử dụng vở thực hành để ghi chép của học sinh không thể thực hiện một sớm một chiều được mà cần phải có thời gian nhất định. Nó đòi hỏi ở người thầy dạy sự kiên nhẫn, khéo léo và linh hoạt trong giảng dạy.

          Nói tóm lại, việc sử dụng vở thực hành đối với học sinh trong dạy học theo phương pháp BTNB là một vấn đề không dễ. Theo tôi, tùy theo đối tượng học sinh mà giáo viên nên quyết định hình thức làm việc với vở thực hành cho học sinh để đạt được mục đích sư phạm của phương pháp và hiệu quả dạy học của mình.

4. Hiệu quả của SKKN

          Phương pháp BTNB giảng dạy môn khoa học được tôi vận dụng trong giảng dạy ở khối lớp 4, trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ, đối tượng học sinh chủ yếu là người Kinh.

          Qua việc thực hiện giảng dạy môn Khoa học lớp 4 áp dụng phương pháp BTNB trong năm học 2014-2015, học kì I năm học 2015- 2016, với các biện pháp như đã trình bày ở trên, tiến hành kiểm tra học sinh trong lớp về môn Khoa học để đánh giá chung. Qua kiểm tra, tôi thấy chất lượng môn Khoa học khi có áp dụng phương pháp BTNB với các biện pháp như trên đã có những chuyển biến rõ rệt. Bên cạnh đó, học sinh cũng tích cực, tự giác, chủ động hơn trong học tập. Chất lượng giáo dục của học sinh trong lớp vì thế cũng được nâng cao. Cụ thể:

- Cuối năm học 2014 -2015, kết quả kiểm tra môn Khoa học các lớp ở khối 4 do tôi giảng dạy đạt:

9 - 10

7 - 8

5 - 6

3 - 4

1 - 2

TS

%

TS

%

TS

%

TS

%

TS

%

119

87,5

15

11,0

2

1,5

/

 

/

 

                                       ( 136 bài / 136 HS được KT)

          Trong học kì I, năm học 2015 – 2016, kết quả kiểm tra môn Khoa học lớp 4C do tôi giảng dạy đạt:

9 - 10

7 - 8

5 - 6

3 - 4

1 - 2

TS

%

TS

%

TS

%

TS

%

TS

%

34

91.9

2

5,4

1

2,7

/

 

/

 

 

( 37bài / 37 HS được KT)

          - Đa số học sinh yêu thích học môn Khoa học,  say mê tìm tòi, khám phá tự nhiên, tiếp cận thế giới xung quanh mình. Bước đầu biết vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống.

          - Học sinh tích cực, tự giác trong học tập, biết cách tự học, tự tìm tòi, nghiên cứu, chủ động chiếm lĩnh kiến thức.

          - Bên cạnh đó, nhờ thường xuyên được học tập theo phương pháp mới, được chủ động trao đổi ý kiến cùng bạn bè, cùng cô giáo nên nhiều em học sinh đã trở nên mạnh dạn, tự tin hơn trong học tập. Các em có khả năng sử dụng ngôn ngữ nói và viết tốt hơn. Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến việc học tập các môn học khác trong nhà trường.

          Kết quả trên cũng đã chứng minh được, những biện pháp của tôi áp dụng khi thực hiện phương pháp BTNB đã thực hiện đúng tinh thần đổi mới của Bộ giáo dục  đã đề ra.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

C. PHẦN KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

 

1/ Ý nghĩa của SKKN

          Có thể khẳng định: Phương pháp Bàn tay nặn bột là một trong những phương pháp dạy học tiên tiến. Phương pháp này giúp trẻ tự phát hiện được vấn đề. Điều đó có nghĩa là nhu cầu học sẽ xuất phát từ do chính các em. Các em có thể sáng tạo trong hiện tại và trong tương lai. Phương pháp này phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học. Tuy nhiên, chúng ta phải thừa nhận rằng trên thực tế không có phương pháp dạy học nào là vạn năng. Phương pháp BTNB cũng vậy, nó chỉ có thể phát huy được hết ưu điểm khi được vận dụng linh hoạt cùng các phương pháp dạy học khác.

          Từ kết quả nghiên cứu lí luận và thực tiễn, dưới góc độ lí luận dạy học, tôi đã áp dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học môn Khoa học ở Tiểu học đặc biệt ở lớp 4 thành công. Trong các tiết học có sử dụng phương pháp BTNB, các em hoạt động tích cực, chủ động tìm tòi, khám phá kiến thức đầy say mê và sáng tạo hệt như những Nhà khoa học nhí. Phương pháp này giúp cho học sinh khả năng phát triển tư duy lôgic, trí tưởng tượng, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo thực hành và vốn ngôn ngữ khoa học, kèm theo  sự vững vàng trong lập luận. Đó chính là những yếu tố quan trọng  giúp học sinh  tìm tòi khám phá, nắm bắt kiến thức, phát huy tính tích cực của mình. Đó cũng chính là mục tiêu đào tạo con người mới, phù hợp với giai đoạn hiện nay.

          Những biện pháp tôi đã thực hiện ở trên có thể áp dụng rộng rãi trong việc dạy học môn khoa học ở lớp 4, 5, môn TNXH ở lớp 1,2,3.

2/ Bài học kinh nghiệm.

          Qua việc nghiên cứu thực tế và đề xuất một số biện pháp áp dụng phương pháp BTNB trong dạy môn Khoa học lớp 4 nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Khoa học ở Tiểu học, tôi rút ra một số bài học sau:

          - Để phương pháp BTNB được áp dụng rộng rãi và hiệu quả thì việc đầu tiên chúng ta cần làm đó là nâng cao nhận thức đối với giáo viên trong việc đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt là phương pháp BTNB đối với môn Khoa học.

          - Giáo viên cần hiểu đúng, hiểu sâu bản chất của phương pháp BTNB trong dạy môn Khoa học. Có như vậy mới đạt được mục tiêu của phương pháp này. 

          - Trong phương pháp Bàn tay nặn bột, vai trò tổ chức và hướng dẫn của người thầy rất quan trọng, có tính quyết định. Giáo viên cần chủ động thiết kế và thực hiện tiến trình tiết dạy môn Khoa học có áp dụng phương pháp BTNB.

          - Thiết bị dạy học không thể thiếu trong một tiết dạy có sử dụng phương pháp BTNB. Vì vậy, việc lựa chọn và sử dụng thiết bị dạy học trong phương pháp BTNB cần được quan tâm đúng mức.

          - Coi trọng kỹ thuật dạy học và rèn kỹ năng cho cho học sinh trong phương  pháp BTNB.

- Dạy học theo phương pháp này cần có thời gian hơn cho một tiết học bình thường. Vì vậy, giáo viên cần chủ động xây dựng chương trình và sắp xếp nội dung cần cung cấp trong bài dạy hợp lý.

Ngoài ra, để áp dụng phương pháp BTNB hiệu quả, người giáo viên cần: Tổ chức các hoạt động đa dạng,  phong phú; Tổ chức các hoạt động phát triển khả năng tự học của học sinh; Linh hoạt trong phương pháp và ứng xử Sư phạm; Kiểm tra, đánh giá kiến thức và kỹ năng đạt được của học sinh trên quan điểm động viên, khích lệ,...

Với những bài học được rút ra sau khi áp dụng phương pháp BTNB vào dạy học môn Khoa học lớp 4, tôi tin rằng đồng nghiệp của tôi sẽ nghiên cứu và áp dụng thành công.

3/ Kiến nghị và đề xuất:

Từ thực tế công tác giảng dạy, tôi xin đưa ra  kiến nghị, đề xuất như sau:

a/ Đối với Ban giám hiệu

          Tăng cường cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học cho môn Khoa học, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đổi mới phương pháp dạy học, giúp đỡ giáo viên và học sinh khi áp dụng phương pháp BTNB.         

b/ Đối với tổ trưởng chuyên môn, giáo viên

          Họp tổ chuyên môn, trao đổi về kinh nghiệm giảng dạy các môn học, các phương pháp dạy học trong đó có phương pháp Bàn tay nặn bột.

          Thực hiện vận dụng nghiêm túc phương pháp Bàn tay nặn bột trong giảng dạy.

          Tôi rất tâm đắc với  quan điểm của một nhà nghiên cứu giáo dục: "Trong dạy học, người thầy cần hiểu rằng: Đứa trẻ không phải là một cái bình để chứa mà là một ngọn lửa cần được thắp sáng".

          Tôi rất mong nhận được sự đóng góp, bổ sung ý kiến của các cấp lãnh đạo và bạn bè đồng nghiệp để kinh nghiệm của tôi được ngày một hoàn thiện hơn.

                                                                       Kon Tum, tháng 1 năm 2016

                                                                                           Người viết

 

                                                                                   

                                                                                      Nguyễn Thị Mai

 

 

Nhận xét, đánh giá của Hội đồng khoa học nhà trường 

......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHỤ LỤC 2

 

Giao án  Khoa học (Lớp 4)

 

Bài:   Không khí  có những tính chất gì?

I. Mục tiêu:

- Quan sát  và làm thí nghiệm để phát hiện ra một số tính chất của không khí: trong suốt, không màu, không vị, không hình dạng nhất định; không khí có thể bị nén lại và giãn ra.

-  Nêu được  ví dụ về việc ứng dụng một số tính chất của không khí trong đời sống: bơm xe, ….

II. Chuẩn bị:

- HS: bóng bay với hình dạng khác nhau, cốc thủy tinh trong, chai nhựa với các hình dạng khác nhau, bơm kim tiêm. ( Chuẩn bị theo nhóm)

III. Các hoạt động dạy học:

 

Hoạt động của giáo viên

Hoạt động của học sinh

A. Kiểm tra bài cũ:

KT bài: Làm thế nào để biết có không khí?

- Tìm VD chứng tỏ không khí có ở xung quanh ta và không khí có trong những chỗ rỗng ở mọi vật.

- Lớp không khí bao quanh Trái đất được gọi là gì ?

* Nhận xét

 

 

- HS trả lời

B. Bài mới:

 

HĐ1: Phát hiện một số tính chất của không khí

*Mục tiêu: Sử dụng các giác quan và làm TN  để nhận biết tính chất của không khí

B1: Tình huống xuất phát

GV đưa ra trước lớp một chai nhựa trong rỗng, nút bịt kín và hỏi: Làm thế nào để biết được trong chai có không khí hay không? Các cách sau đây có được không: nhìn, ngửi, nếm, cân lên, ...?

B2: Bộc lộ hiểu biết ban đầu của HS

- GV Y/C HS : Ghi lại những hiểu biết ban đầu của mình vào vở ghi chép khoa học về tính chất của không khí ; Sau đó thảo luận nhóm 6 ,  ghi kết quả thảo luận vào bảng nhóm.( Bằng lời hoặc hình vẽ).

VD: + Có thể nhìn/, ngửi,/ nếm để biết được có KK trong chai hay không vì KK có màu,/ mùi,/ vị.

+ Có thể cân để biết có KK trong chai hay không.

+ Không thể nhìn,/ ngửi,/ nếm để biết được có không khí trong chai hay không.

+ Có thể dìm chai xuống nước rồi mở nút chai ra,..

- GV tập hợp thành các nhóm biểu tượng ban đầu.

B3: Đề xuất câu hỏi, phương án tìm tòi

-         HD HS đề xuất câu hỏi liên quan đến tính chất của không khí.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- GV tổng  hợp các câu hỏi phù hợp:

 + KK có màu, có mùi, có vị không?

 + KK có hình dạng nào?

 + KK có thể bị nén lại hoặc bị giàn ra không?   

B4: Thực hiện phương án tìm tòi, khám phá.

- Y/C HS viết dự đoán vào vở

- HDẫn HS đề xuất phương án tìm tòi, khám phá.( HS có thể đề xuất nhiều phương án, GVHDẫn HS lựa chọn phương án: Làm TN)

- Cho HS tiến hành làm thí nghiệm để kiểm tra dự đoán:

* Để trả lời câu hỏi: Không khí có màu, có mùi, có vị không? Có thể làm TN: Sử dụng một cốc thủy tinh rỗng. HS tiến hành sờ, ngửi, quan sát phần rỗng của cốc, HS có thể dùng thìa múc KK trong cốc để nếm.

 ( HS KL: KK trong suốt, không có màu, không có mùi và không có vị.)

       GV có thể xịt nước hoa hoặc dầu gió vào KK để HS hiểu mùi thơm ấy không phải là mùi của KK.

* Để trả lời câu hỏi: KK có hình dạng nào?, có thể làm TN:  HS thổi căng các quả bóng với hình dạng khác nhau, rút ra KL: KK không có hình dạng nhất định.

( Hoặc: các nhóm Dùng các  chai nhựa với hình

 

dạng khác nhau để lấy KK,...)

*Để trả lời câu hỏi: KK có bị nén lại và giãn ra không?, có thể làm TN: Sử  dụng chiếc bơm tiêm. Bịt kín đầu dưới của bơm tiêm bằng 1 ngón tay. Nhấc bittông  lên để KK tràn vào đầy thân bơm. Dùng tay ấn đầu trên của chiếc bơm, bittông của chiếc bơm tiêm sẽ đi xuống, thả tay ra, bittông sẽ di chuyển về vị trí ban đầu.

( KL: KK bị nén lại và bị giãn ra).

 B5: Kết luận kiến thức

- Tổ chức cho các nhóm báo cáo kết quả sau khi đã tiến hành thí nghiệm.

Kết luận chung : KK không màu, không mùi, không vị; KK không có hình dạng nhất định; KK có thể bị nén lại và bị giãn ra.

- HD HS so sánh lại với các suy nghĩ ban đầu của mình ở B2 để khắc sâu kiến thức.

 

 

 

 

 

- HS theo dõi

 

 

 

 

- HS  tìm, ghi lại những hiểu biết ban đầu của mình vào vở ghi chép khoa học, bảng nhóm.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- HS đề xuất câu hỏi

VD:

:+  Không khí có mùi gì?

 + Không khí có vị gì?

 + Chúng ta có thể nhìn thấy không khí được không?

 + Không khí có vị gì?

 + Không khí có vị không?

 +Chúng ta có thể bắt được không khí không?

  + Không khí có giãn nở không?

  +Chúng ta có thể nuốt được không khí không?

  +Vì sao không khí có nhiều mùi khác nhau?...

 

 

 

 

 

- Ghi dự đoán vào vở.

- Nêu dự đoán của em.

- Đề xuất phương án

    ( Làm thí nghiệm)

 

 

 

- Làm thí nghiệm đã đề xuất.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Trình bày thí nghiệm, nêu kết luận

 

 

 

 

HS tự so sánh để khắc sâu.

HĐ2: Nêu 1 số VD về việc ứng dụng 1 số tính chất của không khí trong đời sống.

H: Hãy nêu ví dụ về việc ứng dụng một số tính chất của KK trong đời sống?

VD: Làm bơm kim tiêm, bơm xe, ...

 

 

- HS nêu

 

 

HĐ3: Củng cố, dặn dò

H: - Không khí có những tính chất gì ?

     - Nêu 1 số VD về việc ứng dụng 1 số tính chất của không khí trong đời sống.

- Dặn HS: Chuẩn bị DCTN cho bài Không khí gồm những thành phần nào ?

 

 

- HS nêu.

- HS lấy VD

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHIẾU HỌC TẬP

Khoa học

 

Bài...                .................................................................................

 

* Điều em nghĩ:

....................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................

* Câu hỏi  em đặt ra:

....................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................

* Phương án của em:

..................................................................................................................................................................................................................................................................

* Cách em tiến hành:

....................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................

.................................................................................................................................................................................................................................................................

 

* Kết luận của em:

.....................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................

 

Kết luận chung

 

 

................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................

 

MỤC LỤC

 

                                                                                                         Trang

          Kí hiệu viết tắt                                                                                   2

A. Đặt vấn đề                                                                                                                        I. Mục đích của SKKN                                                                      3

II.Lí do đề xuất SKKN                                                                      4

          B.Giải quyết vấn đề                                  

          1.Cơ sở lí luận của vấn đề                                                                 6

          2.Thực trạng của vấn đề                                                                    7

          3.Các giải pháp đã tiến hành                                                             9

3.1/  Việc đầu tiên tôi làm là tự nâng cao nhận thức                        9

 của bản thân thông qua nghiên cứu tài liệu.

3.2/ Chủ động thiết kế và thực hiện tiến trình tiết dạy                      10

 môn Khoa học có áp dụng phương pháp BTNB

3.3/ Lựa chọn và sử dụng thiết bị dạy học hiệu quả                         16

trong phương pháp BTNB.

3.4/ Coi trọng kỹ thuật dạy học và rèn kỹ năng cho

cho học sinh trong phương pháp BTNB.                                          18

          4.Hiệu quả của SKKN                                                                      24

          III. Phần kết luận và đề xuất                                                             

1. Ý nghĩa của SKKN                                                                      26

          1.Bài học kinh nghiệm                                                                     26

          2.Kết luận  và đề xuất                                                                      27

             Nhận xét, đánh giá của Hội đồng khoa học nhà trường                28                                                               

          IV. Phụ lục                                                                                       

                Phụ lục 1                                                                                     29

                Phụ lục 2                                                                                     31

                Phụ lục 3                                                                                     34       

V.Mục lục                                                                                         35                                             

VI.Tài liệu tham khảo                                                                       36                             

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. Phương pháp “ Bàn tay nặn bột” trong dạy học các môn Khoa học cấp Tiểu học và cấp Trung học cơ sở ( Tài liệu tập huấn thí điểm – lưu hành nội bộ) của Bộ giáo dục và đào tạo.

2. Phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học môn Tự nhiên xã hội, môn Khoa học ở trường Tiểu học của Bộ giáo dục và đào tạo.

3. Tài liệu hỏi đáp về phương pháp Bàn tay nặn bột của Bộ giáo dục và đào tạo.

.

 


Nguồn: hoangvanthu.kontumcity.edu.vn
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết